Những bông hoa nở trên miền cằn cỗi, đó là vẻ đẹp rực rỡ nhất và bí ẩn nhất của tạo hóa

Browsing "Older Posts"

  • Lăng Ông Bà Chiểu

    By Kẻ lang thang → Thứ Tư, 13 tháng 2, 2019

    Cổng chính đề 3 chữ ''Thượng Công Miếu"

    Thăm lăng Ông Bà Chiểu. Cái tên thực rất dễ gây nhầm lẫn nếu không tách ra là Lăng Ông (tức Tả quân Lê Văn Duyệt) ở vùng đất Bà Chiểu (cạnh chợ Bà Chiểu), mà dân chúng quen gọi ngắn gọn như vậy. Thôi cũng không sao.
    Ông tên chữ là Văn Duyệt, tổ tiên người Quảng Nghĩa dời vào ở Định Tường, năm 17 tuổi bỗng nhiên có chí trận mạc để lưu danh sử sách, theo Thế Tổ Cao hoàng đế ta ở Gia Định, chiến công cực kỳ to lớn. Sau khi đại định, được phong tước chịu mệnh vua giữ đất an dân, cầm lệnh tiết, việc xử trí việc lớn với các nước Xiêm La, Chân Lạp, kinh lược hai xứ Nghệ An, Thanh Hóa, hai lần bình định bọn man mọi tàn ác, một lần tận diệt bọn sư tăng hung dữ, những nơi ông đến không nơi nào là không quy phục, trước sau ông hai lần làm Tổng trấn Thành Gia Định gần 20 năm nên đã để lại niềm kính yêu cao dần trong dân chúng. Ông mất đi, tinh anh kết tụ, núi sông bảo bọc, mỗi khi đêm thanh trời tối, trên mộ ông vang tiếng ngựa hý quân reo mọi người đều kính trọng và tránh xa ông, gọi đền là miến Ông, gọi mộ là lăng Ông, dựng tượng ông để thờ mãi mãi.
    Xưa nay, bậc anh hùng hào kiệt, sinh thời gặp lúc sấm chớp, mưa dông, đất trời mờ mịt, dốc lòng trí dũng, lập nên công nghiệp, sống hưởng vinh thân, chết được vinh danh, ngay khi thời cuộc biến đổi mà anh phong lẫm liệt còn hiển hiện, xưa nay mấy ai được như thế … (Phụ chính Đại thần Hoàng Cao Khải soạn đề năm 1894).
    Khu lăng mộ xây trên đồi cao, xung quanh cây cối rậm rạp, có cả cây thốt nốt của vùng đất Tây Nam. Con đường xưa tên gọi Lê Văn Duyệt giờ đã đổi tên thành Đinh Tiên Hoàng nhưng hơn trăm năm qua mọi thứ vẫn còn nguyên đó. Giỗ ông vào dịp cuối tháng 7 đầu tháng 8 Âm lịch, có hát bội và đãi cơm mặn khách thập phương.
    Nhìn lăng Ông mà ngẫm tới lăng của người soạn bia năm nào, quyền chức ngang nhau thậm chí ông Hoàng Cao Khải còn được đánh giá là Phó vương, uy quyền lừng lẫy nhưng chắc cũng do lòng người nên lăng mộ ông ở Đống Đa giờ bị xâm chiếm, mồ mả nằm chung với chỗ sinh hoạt hàng ngày lạnh lẽo không hương khói, nghĩ mà thấy buồn. Họ đều là những người vì dân vì nước cả, có điều thời thế mà tạo ra những hướng đi để rồi số phận khác nhau dẫn đến cách đánh giá nhìn nhận của hậu thế cũng khác nhau lắm.
  • Đầm Lập An

    By Kẻ lang thang → Thứ Hai, 21 tháng 1, 2019

    Nằm dưới chân đèo Hải Vân phía Lăng Cô là đầm Lập An, thủ phủ của hàu sữa và các loại thủy sản nổi tiếng như vẹm xanh, sò điệp, ốc nón ... Nếu chỉ chạy theo đường quốc lộ số 1 ngắm vài resort chiếm lĩnh mặt tiền phía biển, mua chục chai dầu tràm, thăm cảng thì đơn điệu và lãng phí. Hãy đi một vòng quanh đầm Lập An để khám phá một thế giới đầy màu sắc tựa như một thiên đường cho những kẻ lang thang.

     Nhà ngư dân 

    Con suối cạn và đàn vịt

    Công cụ nuôi hàu sữa (lốp xe)

    Đỉnh núi đá đen

    Đường ven đập

    Đồi tràm

  • Đà Lạt trong lòng người xa xứ

    By Kẻ lang thang → Thứ Tư, 16 tháng 1, 2019

    Đà Lạt xưa kia giống như một thiếu nữ tuổi xuân thì, dáng đài các, đã từng làm xiêu lòng biết bao nhiêu là văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ và cả nhiếp ảnh gia nữa… Thật quyến rũ. Thật đắm say. Đà Lạt là cả một thiên đường của kỷ niệm, của hạnh phúc. Biết bao nhiêu người đã dàn trải nỗi lòng nhung nhớ về thành phố này thành những dòng hồi ký, những lời tình tự, những vần thơ lai láng, những âm thanh, điệu nhạc thánh thót, trữ tình hay những bức tranh vẽ, những tấm ảnh chụp rất nghệ thuật… Mỗi người một vẻ… Quả thật Đà Lạt mãi mãi in đậm nét trong lòng người, nhất là những người đang sống một cuộc đời xa xứ.


    Một bài viết năm 1959 đã nói: “Bạn có sống qua những ngày lặng lẽ u buồn ở Đà Lạt, có ngắm qua những buổi hoàng hôn nhuộm đỏ cánh đồi, có ngồi thu mình nhìn qua giọt mưa nặng trĩu rơi trên cửa kính, có dịp trầm ngâm cô độc say mê theo khói thuốc và hương vị tách cà phê phin thẫm nâu, có lủi thủi dưới làn mưa bụi về đêm, có nện gót giày đều đều trên đường phố hoang vắng, có sống qua những giờ phút trống rỗng của cuộc đời và lòng có mang ít nhiều kỷ niệm đau thương, bạn mới cảm được cái “tâm hồn” sâu xa và thấm thía của Đà thành. Và lúc ấy, bạn khó lòng mà rời Đà Lạt được nữa.” (Khánh Giang)

    Sau 1975 có người cũng từng giãi bày tâm sự: “Cái thành phố đó nếu bạn đến một lần là sẽ nhớ mãi. Ðến rồi không muốn rời đi. Ði rồi lại muốn trở lại. Nhưng đó là Ðà Lạt của 40 năm về trước, một Ðà Lạt hiền lành như ngô khoai, trong sạch đẹp đẽ thơm như hoa hồng nhung, ngọt ngào như chuối La Ba và thủy chung như những hàng thông.” (Khánh Ly)

    Thương nhớ Đà Lạt vô vàn nhưng có người đã phải u buồn mà kết luận: “Trên con đường tìm kiếm hạnh phúc, một thứ hạnh phúc tương đối mà con người có thể mưu cầu được cho mình, phải chăng với người dân Đà Lạt ngày nay, Đà Lạt ngày xưa đã là một thiên đường đánh mất?” (Vi Khuê) 

    Chắc không hẵn vậy phải không các bạn, chúng ta phải cùng nhau gìn giữ sự thanh khiết của vùng đất này.

    Tình yêu với Đà Lạt thật muôn vẻ, dàn trải cả trên đồi cao lẫn dưới lũng thấp. Chập chùng giữa núi xanh rừng thẳm. Lững lờ trên mặt suối trong hồ lặng. Cuồn cuộn theo thác gieo nước bạc. Thấp thoáng trong mưa giăng sương phủ. E ấp phủ khắp hoa đồng cỏ nội… Phải chăng đối với những ai đã từng sinh trưởng tại Đà Lạt, hay đã có một thời gian dài sinh sống ở đây hoặc chỉ là du khách ghé thăm thành phố trong một thời gian ngắn sẽ cảm nhận được rằng Đà Lạt của những ngày tháng cũ đã để lại trong tận cùng tâm khảm con người những niềm thương sâu đậm và thiết tha… Tình với Đà Lạt Dấu Yêu bồng bềnh như bóng mây, một thời đã hội tụ quyến luyến trên bàu trời thành phố cao nguyên thời nay lại man mác dàn trải ra khắp cả bốn phương trời…

    Nỗi nhớ khôn nguôi, kể sao cho hết. Chất chồng biết bao kỷ niệm thân thương. Càng xa Đà Lạt lâu thời nỗi nhớ nhung lại càng đậm đà… Hết nhớ người, nhớ cảnh lại nhớ đến tình… Tình với Đà Lạt mãi mãi chung thủy. Luôn luôn trọn vẹn. Hòa nhập cùng với tình người, tình thiên nhiên vạn vật, tình quê hương đất nước... Dù cho “vật đổi” nhưng lòng người chẳng dời thay! Dù biết rằng Đà Lạt chỉ như một “quán trọ” ta tạm dừng chân trong dòng đời! Mà nghĩ cho cùng thời có lẽ cả cõi trần gian này cũng chỉ là một “quán trọ” trong vòng sinh tử luân hồi đấy mà thôi! Nhưng dễ ai mà đã “thoát tục” để xả đi mọi tình cảm, quên được những dấu ấn sâu đậm Đà Lạt xưa đã ghi khắc trong lòng người!

    Đà Lạt ơi! Dù ta không còn được sống trên mảnh đất Đà Lạt chăng nữa nhưng có một điều chắc chắn là Đà Lạt mãi mãi vẫn còn sống trong ta, trong trái tim bao người xa xứ!
  • Cái giọng Sài Gòn

    By Kẻ lang thang →
    Giọng Sài Gòn cũng như văn hóa và con người Sài Gòn là một sự pha trộn và giao thoa đến hợp nhất của nhiều nơi. Đó là những người Chăm bản địa, những người khách Hoa, những người miền Trung đầu tiên đến đất Gia Định… Từ đó hình thành một loại ngôn ngữ vừa bản địa, vừa vay mượn của những người đi mở đất… 

    Giọng người Sài Gòn được xem là giọng chuẩn của miền Nam, cũng như giọng người Hà Nội được xem là giọng chuẩn của miền Bắc. Giọng chuẩn tức là giọng không pha trộn, không bị cải biến đi qua thời gian. Như nói về giọng chuẩn của người Hà Nội, người ta nói đến chất giọng ấm nhẹ, khi trầm khi bổng, khi sắc khi thanh, và chẳng ai phủ nhận người Hà Nội nói chuyện rất hay và “điêu luyện”. Cái “điêu luyện” ấy như thuộc về bản chất của người Hà Nội mà chỉ người Hà Nội mới có được. 

    Nếu nói là người Việt Nam nói như hát, thì đúng ra chỉ có người Hà Nội là “nói như hát” mà thôi, họa chăng chỉ có giọng Huế của người con gái Huế trầm tư mới cùng được ví von thế… Người Sài Gòn thì khác, giọng Sài Gòn cũng khác. Không ngọt ngào… mía lùi như một số người dân Tây Nam Bộ ven vùng sông nước mênh mang chín rồng phù sa; không nặng nề cục mịch như người miền Đông Nam Bộ nóng cháy da thịt; giọng người Sài Gòn cũng ngọt, nhưng là cái ngọt thanh hơn, nhẹ hơn. Đó là chất giọng “thành thị” đầy kiêu hãnh của người Sài Gòn, chẳng lẫn vào đâu được mà dù người khác có bắt chước cũng khó lòng. 

    Dường như qua nhiều năm cùng với đất Gia Định – Sài Gòn phù hoa trong nhịp sống thì giọng nói của người Sài Gòn cũng trở nên “cao sang” hơn. Dù vậy, có cái “thanh” của một vùng đất một thời là thủ phủ Nam Bộ, nhưng cũng chẳng mất đi đâu cái mộc mạc không bỏ được của cái gốc chung Nam Bộ. Giọng người Sài Gòn nói lên nghe là biết liền. Ngồi nghe hai người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau ở một quán nước, bên đường hay qua điện thoại, dễ dàng nhận ra họ. Cái giọng không cao như người Hà Nội, không nặng như người Trung, mà cứ ngang ngang sang sảng riêng… Mà điều đặc biệt trong cách người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau là mấy từ “nghen, hen, hén” ở cuối câu… Người miền khác có khoái, có yêu người Sài Gòn thì cũng vì cách dùng từ “nghen, hen” này. Khách đến nhà chơi, chủ nhà tiếp. Khách về, cười rồi buông một câu: “Thôi, tôi dìa nghen!” – Chủ nhà cũng cười: “Ừ, dzậy anh dìa hen!”. Nói chuyện điện thoại đã đời, để kết câu chuyện và cúp máy, một người nói: “Hổng còn gì nữa, dzậy thôi hen!” “Thôi” ở đây nghĩa là dừng lại, kết thúc, chấm dứt gì đó. Hai đứa bạn nói chuyện cùng nhau, bắt gặp cái gì vui, quay đầu sang đứa kế bên: “Hay hén mậy?” bằng giọng điệu thoải mái… 

    Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ “dạ” khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ “vâng”. Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ “vâng”. Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói “vâng!” là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt. Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ “dạ” vào mỗi câu nói. “Mày ăn cơm chưa con?” – “Dạ, chưa!”; “Mới dìa/dzề hả nhóc?” – “Dạ, con mới!”… Cái tiếng “dạ” đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó “thương” lạ… dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm. Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác. Nghe một tiếng “dạ” là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẵng hay. 

    Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói “Từ bữa đó đến bữa nay”, còn người Sài Gòn thì nói “hổm nay”… người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê. (Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ “ghê” phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng. Tiếng “ghê” đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là “nhiều”, là “lắm”. Nói “Nhỏ đó đẹp ghê” nghĩa là khen cô bé đó lắm vậy.) Lại so sánh từ “hổm nay” với “hổm rày” hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau. Nghe người Sài Gòn dùng một số từ “hổm rày, miết…” là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy. Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng, vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất Nam Bộ chung mà. 

    Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem… “Nhỏ đó đẹp lắm!”, “Nhỏ đó ngoan!”…Tiếng “nhỏ” mang ý nghĩa như tiếng “cái” của người Hà Nội. Người Sài Gòn gọi “nhỏ Thúy, nhỏ Lý, nhỏ Uyên” thì cũng như “cái Thúy, cái Uyên, cái Lý” của người Hà Nội thôi. Giọng nói người Sài Gòn không sang trọng, điệu đà như giọng người dân đất Bắc, cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Thần Kinh, cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào của sông nước Nam Bộ, bằng cái chân chất thật thà của truyền thống xa xưa, và bằng cả cái “chất Sài Gòn” chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn. 

    Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng “Dạ!” cùng những tiếng “hen, nghen” lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương… Giọng người Sài Gòn đôi khi diễn đạt cùng một câu nói, nhưng lại bằng nhiều cung bậc giọng điệu khác nhau lại mang ý nghĩa khác nhau. Đám nhỏ quậy, nghịch phá, người chị mắng, giọng hơi gằn lại và từng tiếng một, có chút hóm hỉnh trong đó: “Dzui dzữ hen!”. Đám bạn cùng tuổi, ngồi chơi chung, cười đùa, một người nói giọng cao cao vui vẻ: “Dzui dzữ hen!”… Người Sài Gòn có thói quen hay “đãi” giọng ở chữ cuối làm câu nói mang một sắc thái khác khi hờn giận, khi đùa vui như: “Hay dzữuuu”, “Giỏi dzữưưu…!” 

    Nghe người Sài Gòn nói chuyện, trong cách nói, bắt gặp “Thôi à nghen”, “Thôi à!” khá nhiều, như một thói quen và cái “duyên” trong giọng Sài Gòn. Người Sài Gòn nói chuyện, không phát âm được một số chữ, và hay làm người nghe lẫn lộn giữa âm “d,v,gi” cũng như người Hà Nội phát âm lẫn các từ có phụ âm đầu “r” vậy. Nói thì đúng là sai, nhưng viết và hiểu thì chẳng sai đâu, đó là giọng Sài Gòn mà, nghe là biết liền. Mà cũng chẳng biết có phải là do thật sự người Sài Gòn không phát âm được những chữ ấy không nữa, hay là do cách nói lẫn từ “d,v,gi” ấy là do quen miệng, thuận miệng và hợp với chất giọng Sài Gòn. Ví như nói “Đi chơi dzui dzẻ hen mậy!” thì người Sài Gòn nói nó… thuận miệng và tự nhiên hơn nhiều so với nói “Đi chơi vui vẻ hen!”. Nói là “vui vẻ” vẫn được đấy chứ nhưng cảm giác nó ngường ngượng miệng làm sao đó. 

    Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu: “Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề… nhìn phát bực!” Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm. Một người lớn hơn gọi: “Ê, nhóc lại nói nghe!” hay gọi người bán hàng rong: “Ê, cho chén chè nhiều nhiều tiền ít coi!”… “Ê” là tiếng Sài Gòn đó, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu, có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người Sài Gòn. Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường “quên” mất từ “bán”, chỉ nói là “cho chén chè, cho tô phở”… “Cho” ở đây là mua đó nghen. 

    Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này: “Lấy cái tay ra coi!”; “Ngon làm thử coi!”; “Cho miếng coi!”; “Nói nghe coi!”… “Làm thử” thì còn “coi” được, chứ “nói” thì làm sao mà “coi” cho được nè? Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ “coi” cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà. Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm, không ít người sẽ hỏi: “mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta?” – Mà “dzậy ta” cũng là một thứ “tiếng địa phương” của người Sài Gòn à. Người Sài Gòn có thói quen hay nói: “Sao kỳ dzậy ta?”; “Sao rồi ta?”; “Được hông ta?”… Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà… hổng phải dzậy đâu nghen, kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà. 

    Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là… “bạn hông biết gì hết chơn hết chọi!” 

    (Hải Phan)
  • Những ký ức xanh màu ô liu (phần 8)

    By Kẻ lang thang → Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2019
    Những người Việt tại Algeria 

    Ở đất nước này ngoài anh em dầu khí ra còn có nhiều người mang quốc tịch Việt Nam, dù ít dù nhiều cũng có phần nào ảnh hưởng đến cuộc sống của người dầu khí, nhất là vấn đề tinh thần. Và phải thú thực rằng, những ảnh hưởng đó hoàn toàn là tích cực nếu không nói rằng, thiếu vắng họ, không biết người dầu khí sẽ ra sao? 

    Cộng đồng người Việt Nam ở Algeria có thể chia làm 3 nhóm: Nhóm thứ nhất là thân nhân các gia đình có mẹ là người Việt sang Algeria từ sau năm 1954 (lấy chồng là lính Algeria tham chiến tại Điện Biên Phủ), nhóm thứ hai là các chuyên gia sang hỗ trợ Chính phủ Algeria trong giai đoạn 80-90 của thế kỷ trước và ở lại đây (cho đến khi nội chiến xảy ra thì hoạt động hỗ trợ này mới chấm dứt), nhóm thứ ba là các thành viên và gia đình thuộc khối các cơ quan ngoại giao Việt Nam thường trú tại Algeria. Sau này khi hoạt động xúc tiến thương mại nhiều lên thì có thêm nhóm thứ tư gồm các doanh nghiệp sang làm ăn tại Algeria. 

    Khi dự án bắt đầu triển khai hoạt động, địa điểm văn phòng chưa có, nơi đặt đại bản doanh đầu tiên là ở Đại sứ quán với diện tích rất khiêm tốn, các giường hầu như phải kê sát nhau, sinh hoạt đi chợ nấu ăn rửa bát tự phân công nhau thực hiện. Đó cũng là chuyện bình thường khi ra nước ngoài làm ăn của các doanh nghiệp vì chỗ dựa đầu tiên và an toàn nhất chính là Đại sứ quán Việt Nam. Những vị đại sứ thế hệ đó như đại sứ Huệ, đại sứ Dư, đại sứ Cương đã hết sức giúp đỡ và tạo điều kiện cho những người dầu khí làm tốt công việc của mình, khách quan vô tư vì bản thân các anh cũng hiểu đây không phải chuyện “chơi” như một đoàn khách thăm quan học tập kinh nghiệm hay tham gia hội chợ mà đây là nhiệm vụ chính trị hết sức quan trọng được đích thân lãnh đạo Tập đoàn thay mặt Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ trước lúc lên đường. 

    Không chỉ giúp về chỗ ăn chỗ ở, bằng quan hệ ngoại giao, Đại sứ quán đã có những hỗ trợ nhất định cho dự án ở những thời điểm khó khăn, cần những tác động cấp cao từ chính phủ hai nước. Những dịp các đoàn công tác sang là những lúc anh em dầu khí lại được sát cánh bên Đại sứ quán để cùng chuẩn bị đón tiếp, không ít lần Đại sứ quán đã kết hợp tổ chức đưa lãnh đạo Đảng và Nhà nước tới thăm văn phòng PVEP Algeria, đó thực sự là những kỷ niệm đáng tự hào, không thể nào quên. 

    Tranh cây ô liu của Van Gogh

    Những dịp Quốc khánh hay Tết Nguyên đán, dự án luôn có những anh em phải ở lại trực. Dù chỉ dăm ba ngày thôi và cũng còn bộn bề ngổn ngang công việc nhưng sau tất cả những ồn ào của máy móc thì khi trở về phòng, nhìn bếp ăn vắng vẻ, không ai trong chúng tôi cầm được nước mắt. Đó không chỉ là những nỗi nhớ quê hương gia đình và bạn bè trong ngày xuân sum họp, đó còn là sự chịu đựng hoàn cảnh và chút tủi hờn của những đứa trẻ trong hình hài những gã đàn ông. 

    Những lúc ấy chúng tôi luôn được quan tâm bởi những người Việt Nam trong cộng đồng, họ đã ở bên cạnh động viên, thăm hỏi, tổ chức các buổi giao lưu để khỏa lấp đi những nỗi niềm của chúng tôi và cũng là nỗi niềm của chính họ nữa. Có những thời điểm, tất cả chúng ta như hòa làm một chỉ để nghe dòng máu Việt chảy rần rật trong người mình, đó là lúc hát quốc ca và những lúc lặng im đứng trước khói hương bàn thờ Bác. Sau đó là những niềm vui và sự chia sẻ. Mùng một Đại sứ quán, mùng hai Quân vụ, mùng ba Dầu khí, mùng bốn Thông tấn xã, mùng năm Thương vụ, … cứ như thế chúng tôi đi cùng nhau vượt qua những ngày dài, chấp nhận và vượt lên hoàn cảnh để cùng nhau thưởng thức những cái Tết tha hương. 

    Không thể nào không nhắc đến những người đã rất gắn bó với anh em dầu khí để chia sẻ về mặt tinh thần và có những hỗ trợ về mặt nghiệp vụ để kịp thời thông tin về dự án, giải quyết được những vấn đề có liên quan. Ở Đại sứ quán là các bác Huệ, bác Dư, bác Cương , bác Chứ, bác Hảo, bác Dũng, anh Thắng, anh Khuê, anh Dũng …, ở Quân vụ là chú Hòa cô Tuất, anh Bình chị Hương và cháu Lam, anh Thuận, anh Thắng chị Bình và các cháu Bo Nhím, … ở Thông tấn xã là chị Nga anh Cường, anh Tuyên, anh Chiến chị Trúc, vợ chồng Trí Quyên và các cháu Ali Alino, ở Thương vụ là các anh Cần, anh Mùi, ở Schlumberger có anh Vũ Thanh Phong (một phần vì công việc liên quan), ở Miliana có anh Hùng bác sĩ … 

    Khó mà kể hết những kỷ niệm và hoạt động đã có trong cộng đồng giai đoạn 2006-2010 nhưng đa phần chúng đều được lưu giữ trong những bộ nhớ để sau này mỗi khi gặp lại, những lúc hàn huyên chúng thường được gợi lên để mọi người cùng nhớ lại về một thời dĩ vãng vẫn còn xanh. 

    (còn tiếp)
  • Những ký ức xanh màu ô liu (phần 7)

    By Kẻ lang thang →

    Vào những năm 2006-2007, ở dự án người chưa đông. Hầu hết anh em có thể nhớ tên nhau chỉ sau vài hôm và nhanh chóng trở nên thân thiết, thậm chí còn đàn đúm vui chơi thành từng hội sau giờ làm việc. 

    Tòa nhà Colone ở cạnh đồn cảnh sát quận Hydra chia 02 khu: A và B. Tòa nhà có 5 tầng, trừ tầng 1 đặt bàn bi-a và nuôi chó cảnh thì các tầng trên phân theo kiểu căn hộ, mỗi căn hộ có 3 phòng ngủ và bếp cũng như không gian sinh hoạt chung. A và B là cách phân biệt của anh Nguyễn Quang Hùng, phân căn hộ ra cho anh em mỗi người một phòng ngủ, mọi thứ khác chung. Vì vậy, khu A thì có A1, A2, A3, khu B thì có B1, B2, B3. Chìa khóa phòng, chìa khóa nhà, chìa khóa gara, chìa khóa tủ, chìa khóa két, chìa khóa văn phòng … tất tần tật do anh Quang Hùng quản lý. Ngoài việc phát cho anh em chìa riêng thì đống sơ cua còn lại cùng các loại chìa khác cũng phải gần 1 cân, đi đâu tay cũng cầm 1 chùm, ai cũng phải công nhận anh là người “tay hòm chìa khóa”. 

    Sau đôi lần bất tiện, anh Hùng nảy ra sáng kiến mua một cái hộp để đựng chìa khóa thay vì dùng móc treo lủng lẳng. Từ đó nhẹ nhàng hẳn, anh chỉ còn phải quan tâm tới mỗi cái chìa khóa HỘP ĐỰNG CHÌA KHÓA mà thôi. 

    Danh sách anh em ở thời kỳ đó được sắp xếp như sau (2006): 
    Tầng 2: 2A1 (Nguyễn Thế Vinh), 2A2 (Nguyễn Hùng Sơn), 2A3 (Nguyễn Văn Giáp)/ 2B1 (Phạm Sỹ Phúc), 2B2 (Nguyễn Xuân Cường), 2B3 (Lê Quang Ánh). 
    Tầng 3: 3A1 (Nguyễn Quốc Thắng), 3A2 (Nguyễn Thiện Bắc), 3A3 (Nguyễn Quốc Hưng)/ 3B1 (Trần Xuân Thanh), 3B2 (Nguyễn Tuấn Hùng), 3B3 (Vũ Hoàng Long). 
    Tầng 4: 4A1 (Nguyễn Thanh Hải), 4A2 (Trần Tuấn Anh), 4A3 (Đỗ Anh Tuấn)/ 4B1 (Nguyễn Hồng Kỳ), 4B2 (Lê Thế Hà), 4B3 (Lưu Thanh Tùng). 
    Tầng 5: 5A1 (Lê Quý Quân)/ 5B1 (Đỗ Kim An), 5B2 (Trần Quốc Hoàn), 5B3 (Nguyễn Quang Hùng). 
    Thông thường phòng không cố định mà được sử dụng trong trường hợp anh em về nghỉ ca mà có khách sang hoặc anh em từ Hassi lên. Những khi phòng không đủ phục vụ nhu cầu, anh Quang Hùng phải bố trí anh em ra khách sạn ở (thường là khách sạn Hydra hoặc Mouflon D’Or). 

    Lúc đó đang chuẩn bị chiến dịch khoan nên nhiều anh em đã được điều xuống Hassi Messaoud để thực hiện các công tác thực địa. Thời điểm này, một số anh em cán bộ PVEP cũng được điều động sang hỗ trợ dự án có thời hạn như Đặng Việt Long , Ngô Khánh Xạ , Nguyễn Ngọc Thanh Huy. 

    Anh em tuy sang ít ngày nhưng cũng để lại nhiều ấn tượng trong quá trình làm việc và sinh hoạt. Đặc biệt là Đặng Việt Long, chàng trai Hà Nội trắng trẻo, người đậm, dáng tầm thước. Long đánh bi-a rất hay, thường sau khi xuống ô tô là anh em vào phòng bi-a làm mấy ván giải trí, có lúc cũng có độ kiểu “1 thùng Ken”. Những lúc này, có lúc Long chơi, có lúc đứng ngoài ngắm nghía tư vấn từng đường cơ hay bước chạy bóng. Những lúc cần thị phạm, Long nhướn người lên, một chân gác lên bàn, kính trắng trễ xuống, mắt mở to, miệng hơi mím chặt, chọc những đường cơ đâu ra đấy. Anh em chơi với nhau khá thân, có lần còn dành nguyên ngày đi bộ lang thang xuống down-town để xem Viện Bảo tàng và ngó nghiêng phố xá. 

    Tầng 4 đặt phòng hát karaoke để phục vụ giải trí cho anh em vào dịp cuối tuần. Tại đây, nhiều giọng ca “vàng” đã được phát hiện, trong đó phải kể tới Ngô Thái Hưng. Hưng người Thái Bình, thạc sỹ khoan, làm việc ở base. Những lúc nghỉ ca lên Alger, tranh thủ cầm míc, Hưng hát từ đầu đến cuối. Giọng hát của Hưng hơi ngang nhưng tròn vành rõ chữ, cường độ lớn át cả nhạc. Hồng Kỳ ở đối diện phòng karaoke nên luôn thấm thía mỗi khi Hưng nghỉ ca, thường khi ấy Kỳ sẽ đóng cửa thật chặt, đi tất trắng ngồi đeo headphone và bắt đầu tự xem phim một mình. 

    Bình thường Kỳ cũng ít hát nhưng đã hát thì luôn bắt đầu bằng bài “Hãy hát lên” để cổ vũ anh em. Sau này về PVEP, có lần Liên hoan ca nhạc giọng ca Hồng Kỳ đã đạt giải Nhất với bài hát “Dấu chân phía trước” vốn từng được nghe nhiều lần và bị ảnh hưởng bởi bộ ba Đỗ Kim An, Trần Xuân Thanh và Lương Tuấn Anh hồi còn ở Algeria. 

    Ngoài giải trí bằng âm nhạc, sinh hoạt văn hóa sau giờ làm việc còn có các môn: Chắn cạ, đánh cờ, bi-a, tá lả hoặc lai rai nói chuyện. Hội cờ tướng thì thường do phòng TCKT chủ trì với các anh Nguyễn Tuấn Hùng , Trần Xuân Thanh và Trần Văn Ban , thỉnh thoảng chuyển cờ sang chơi phỏm. Hội “chắn” thường tụ ở tầng 5 với các gương mặt quen thuộc: Nguyễn Quang Hùng, Phí Phi Cường, Lê Quang Ánh, Lê Quý Quân, Đỗ Anh Tuấn. 

    Anh Quý Quân sang đây mới tập chơi nhưng nhanh chóng bị môn thể thao này cuốn hút đến mức có cả biệt danh Quân “Cáp” vì luôn chờ Chi để tìm cước “Chì Bạch thủ ù Chi”. Một thời gian sau, anh Quân xin về nước vì lý do sức khỏe. Hôm tôi đến nhà thăm cùng chị Thủy và Tường Huệ , anh đang nằm ở nhà, chân hằn vệt dép tông của nắng gió biển miền Trung. Hỏi anh mới ra viện được mấy hôm, sức khỏe thế nào, anh ái ngại nhìn chúng tôi cười hiền lành nói sức khỏe cũng đỡ hơn nhiều, nhưng chắc sau đây sẽ không quay lại Alger được nữa vì bác sĩ có lời khuyên. Đúng thật, sau đó anh ở lại công tác tại Hà Nội luôn. 

    Trước thời điểm 2008, phòng Thăm dò đóng vai trò quan trọng với những cái tên như Vũ Sĩ Lý, Nguyễn Văn Giáp, Lưu Thanh Tùng, Vũ Hoàng Long, Trần Minh Giáp, Nguyễn Đức Hảo, … cùng với phòng Thi công. Sau đó lực lượng có những thay đổi để đáp ứng tình hình mới. Các năm 2006-2007 lần lượt nhân lực khoan được bổ sung với các gương mặt Nguyễn Quang Hưng, Thịnh Văn Thành, Bùi Nguyên Bành, Vũ Tiến Trung, … 

    Năm 2008 cũng chứng kiến nhiều anh em về nước sau khi kết thúc chiến dịch khoan thăm dò thẩm lượng để chuẩn bị cho giai đoạn phát triển của dự án, cần một lực lượng mới để phù hợp với phạm vi và tính chất công việc của giai đoạn. Thế hệ thứ nhất và thứ hai của dự án đã dần thay thế bằng thế hệ thứ ba, trẻ trung và giàu tham vọng với những cái tên như Trương Minh Đức, Đặng Hoài Nam, Phan Tiến Dũng, Lê Vĩnh Hiệp, Nguyễn Văn Đức, Vương Thị Thúy Hà, Hoàng Chí Trung, Phùng Đình Sơn … 

    Phòng TCHC lúc mới đầu do anh Lê Quang Ánh phụ trách, sau khi thành lập phòng HSE thì anh Ánh sang làm Trưởng phòng HSE, Quang Hùng lên thay (trước đó phòng TCHC do anh Vũ Xuân Thủy phụ trách đảm nhiệm cả tổ chức hành chính, thương mại, pháp lý và IT). Đầu năm 2007 khi tôi về thì phòng chỉ có 3 anh em: Quang Hùng, Quốc Hoàn và tôi. Công việc nhiều nên anh em phải cố gắng phối hợp nhau để hoàn thành, người nọ gánh đỡ cho người kia, nhất là những lúc nghỉ ca. Hoàn phụ trách IT, thời điểm đó phải xuống sa mạc nhiều để lắp đặt hệ thống liên lạc thuraya từ base ra ngoài giàn khoan, công việc trên Alger Hùng và tôi thực hiện. 

    Là người cẩn thận nên Hùng phân công các công việc rất cụ thể, chi tiết, giám sát kiểm tra thường xuyên nên mọi việc cũng trôi chảy. Thời gian đầu khi chưa hiểu nhiều về Quang Hùng, tôi thường để ý thái độ của anh em đối với Hùng, đặc biệt là đội lái xe, họ rất sợ “Mông-xi-ơ Hùng”. Chỉ cần nghe Hùng nói với họ dù những việc bình thường thôi nhưng đã thấy ánh mắt e ngại của các bạn lái xe, nhất là Touhami và Mohammed. Họp lái xe thường một tuần 1 lần, Hùng có câu khẩu lệnh đã được hầu như anh em dự án thuộc lòng, đó là: Toutes les chauffeurs vient ici tout de suite! (Phiên âm: Tút tờ lê sốp phơ viêng i-xi tút đờ suýt! Tất cả lái xe đến đây ngay lập tức!) Sau khẩu lệnh, lục tục các lái xe từ các vị trí sẽ trở về phòng TCHC (nằm bên phải cửa ra vào) để họp. 

    Dần dần, tôi nhận thấy ngoài những chỉn chu đến khắt khe trong công việc, thậm chí bị coi là khó tính, Hùng là một người dễ mến, sống chân thành, giản dị nhưng sâu sắc. Càng ngày chúng tôi càng thân nhau. Sau này, khi Hùng về nước (2008), chúng tôi vẫn giữ liên lạc và đến giờ thì tình cảm hai thằng vẫn thế, thậm chí có phần còn đậm đà thân mật hơn ngày ở Alger. 

    Chúng tôi vẫn thường nói với nhau rằng “chúng ta đang tiếp tục đi trên một con đường để phục vụ cho sự nghiệp chung”, trong từ điển hai thằng không có từ khoảng cách. Năm 2015 Hùng còn giúp tôi đạt được một trong những mơ ước là được ra thăm Trường Sa, hai thằng đã có thêm những kỷ niệm đáng nhớ trong chuyến đi để bổ sung vào “kho” kỷ niệm giữa hai thằng vốn dĩ đã “hòm hòm” sau hơn chục năm gắn bó cùng nhau. 

    Sau này Phòng TCHC được bổ sung thêm Nguyễn Mạnh Hùng (2007), Trần Thế Cường (2007) và Lê Vĩnh Hiệp (2008). Thời gian sau đó tách phòng IT ra vì thế phòng được bổ sung thêm anh Trần Quang Hải và chị Nguyễn Thị Mười, làm công tác tổ chức nhân sự là chính. (còn nữa)
  • Nghĩ về những giọt nước mắt

    By Kẻ lang thang →
    Giọt nước mắt nơi phiên tòa đã rơi nhiều lần, thực lòng cũng có phần cảm thấy thương xót. Thân phận con người đứng trước xa ngái tù tội trong khi đang hưởng thụ no nê về vật chất tinh thần, ít ai có thể giữ được khí chất mà mỉm cười ngạo nghễ. 

    Nếu thực lòng thấy mình oan sai, vô tội, hoặc coi thường bản án "bỏ túi" ngoài kia thì phải mỉm cười, tuyệt đối không được khóc. Chỉ khi bạn mỉm cười, bạn mới là người chiến thắng. 

    Ảnh chụp anh Nguyễn Văn Trỗi ở pháp trường

    Lịch sử cận đại đã có nhiều tấm gương dũng liệt, bước ra pháp trường vẫn ung dung tự tại, thậm chí như chị Sáu còn "hái một đóa hoa tươi chị gài lên mái tóc", chắc không có thật nhưng tuyên truyền là thế, để từ đó nảy sinh ra biết bao anh hùng từ một dân tộc anh hùng. Bao bậc tiền nhân bước vào xà lim án chém vẫn vui vẻ như bước vào ngôi nhà có đồng đội, có anh em, thậm chí biến nhà tù thành trường học cách mạng. Lê Đức Thọ đã từng thừa nhận được "giáo sư đỏ" Trần Văn Giàu dạy những bài học vỡ lòng về triết học Mác, về chủ nghĩa cộng sản ... tại chuồng cọp Côn Đảo, để từ đó rèn đúc khí phách cho riêng mình. 

    Gần đây, dân tộc sản sinh ra nhiều cá nhân mau nước mắt. Bất luận là ai, bất luận hoàn cảnh nào đều có thể rơi nước mắt. Nước mắt có làm dân tộc trở nên yếu ớt hơn không? Chắc là không vì quan điểm "không để nước mắt rơi làm nhòa mặt kẻ thù" nhưng cũng sẽ dẫn đến hệ lụy cho thế hệ tương lai yếm thế hơn và hèn đớn hơn. Họ không biết đấu tranh, không dám đấu tranh, sợ đấu tranh và dễ đầu hàng trước số phận. Họ sẽ chỉ biết khóc cầu xin lòng thương hại của kẻ thù. Mà đó là điều không bao giờ có cũng như Mát-xcơ-va không bao giờ tin vào những giọt nước mắt. Đơn giản nó chỉ làm tay súng run rẩy hơn mà thôi. 

    Có ông nhà văn già tuyên ngôn: Tôi đứng về phe nước mắt. Mà giờ thật giả lẫn lộn, đến cá sấu cũng có thể hai hàng lệ long lanh thì biết phe phái nào mà lựa chọn. Nhưng cũng không khó để nhận ra những giọt nước mắt thật sự chảy ra vì chan chứa nỗi niềm, vì xót xa đắng đót của thân phận bị lầm than, hãy đi vào nguồn gốc của giọt nước mắt. Chợt nhớ Trịnh tử đang tha thiết ngoài kia "có khi mưa ngoài trời, là giọt nước mắt em, đã nương theo vào đời, làm từng nỗi ưu phiền"... 

    Giọt nước mắt thật sự (nếu có), chỉ có thể bắt nguồn từ tình yêu.

    Ảnh chụp chị Võ Thị Thắng